NamABank có CEO “chăm chỉ” xuất hiện trên truyền thông nhất

[ad_1]

Báo cáo nghiên cứu này đã đưa ra một kết luận về các CEO của Ngân hàng, đó là: Sự xuất hiện của các CEO trên truyền thông còn hạn chế.

CEO của các Ngân hàng vốn được xem là đại diện phát ngôn luôn nhận được sự quan tâm của dư luận mỗi khi xuất hiện hay phát biểu. Theo kết quả nghiên cứu của Vietnam Report, trong 12 tháng từ tháng 7/2013 đến tháng 6/2014, các Ngân hàng như OCB, NamABank, ABBank… có CEO “chăm chỉ” xuất hiện trên truyền thông nhất.

Tuy nhiên, nếu so với mức hiệu quả 20% theo kinh nghiệm quốc tế thì khá nhiều CEO của Ngân hàng hiện nay chưa đạt đủ mức độ xuất hiện cần thiết, có thể khiến các Ngân hàng rơi vào thế bị động trên truyền thông, bởi chủ yếu các nguồn tin về Ngân hàng lại đến từ bên ngoài.

Mức độ xuất hiện của CEO các ngân hàng trên truyền thông (đơn vị: %):

Nguồn: CSDL 2.473 bản ghi về các NHTM tại Việt Nam từ tháng 7/2013 đến tháng 6/2014.

Với đánh giá như vậy, Vietnam Report đưa ra một số gợi ý để cải thiện “hình ảnh truyền thông” của các CEO.

Thứ nhất, lựa chọn kỹ thông tin và thời điểm công bố trên truyền thông. Để đạt được tỷ lệ về các đối tượng mục tiêu, Ngân hàng phải xuất hiện liên tục tối thiểu với tần suất 1 lần/ tuần, với độ dài thông tin tối thiểu 5 dòng, được coi như ngưỡng nhận biết.

Nếu khối lượng thông tin dưới ngưỡng nhận biết này, tất cả các thông tin về Ngân hàng đó về cơ bản sẽ được coi như không có giá trị.

Trước các sự kiện chính như báo cáo thường niên, số lượng thông tin phải có dấu hiệu gia tăng để tránh nhu cầu cho các nguồn lực bổ sung. Khối lượng phải nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh cũng như các tổ chức khác.

Các Ngân hàng cần tập trung hơn nữa cho quản trị hình ảnh truyền thông chiến lược.

Thêm vào đó, tỉ lệ phần trăm số ý kiến của các nhà phân tích về NH cần được đẩy lên tới mức giới hạn 10% nhằm có được nhiều hơn những góc nhìn khách quan có khả năng tăng cường chất lượng uy tín của NH.

Thứ hai, đa dạng hóa nhóm chủ đề thông tin. Theo Vietnam Report, NH không nên chỉ tập trung vào một vài yếu tố hình ảnh nhất định, đặc biệt là các yếu tố tài chính có thể làm lộ rõ giá trị tổng thể của NH và gây áp lực không đáng có lên công tác truyền thông khi phải cung cấp các thông tin trong ngắn hạn. Cần chủ động quản lý hình ảnh NH bằng cách thiết lập mục tiêu trong việc đạt tới một tỷ lệ bao phủ nhất định về các hạng mục truyền thông.

Thứ ba, tập trung hơn cho quản trị hình ảnh truyền thông khi xuất hiện thông tin tiêu cực. NH cần tập trung hơn nữa cho quản trị hình ảnh truyền thông chiến lược.

Việc quản trị này có thể giúp NH dự đoán “cơn bão danh tiếng” sẽ diễn ra bao lâu và bằng cách nào để giảm thiểu thiệt hại có thể xảy ra. Quản trị hình ảnh truyền thông chiến lược tốt sẽ cung cấp những dữ liệu rõ ràng, có thể đo lường được, về việc cần phải có bao nhiêu báo cáo/bài báo để tái cân bằng một cuộc tấn công vào hình ảnh thương hiệu, và xác định thời gian để phản ứng lại một cách chính xác và chuyên nghiệp.

Thứ tư, tăng cường hơn nữa nguồn tin xuất phát từ NH. Theo kinh nghiệm quốc tế, NH cần chủ động trong việc quản trị thông tin truyền thông để chuyển tiếp các thông tin tích cực làm tăng độ phủ của thông tin tích cực.

Các NH phải duy trì tỷ lệ “tiếng nói” của mình ở mức 35% để duy trì quan hệ tốt với truyền thông và có cơ hội đạt được mức 50% – tỷ lệ cần thiết đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng.

Báo cáo này dựa trên phân tích những dữ liệu mã hóa theo ngành (Branch Coding) từ các bài báo trong mục chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng nhằm đưa ra cái nhìn khách quan về hoạt động và hình ảnh của các ngân hàng trên báo chí trong khoảng thời gian từ tháng 7/2013 đến tháng 6/2014.

Các thông tin được lựa chọn để mã hóa (coding) dựa trên 02 nguyên tắc cơ bản: Tên ngân hàng xuất hiện ngay trên headline của bài báo, hoặc tin tức về ngân hàng được đề cập tối thiểu chiếm 05 dòng trong bài báo, đây được gọi là ngưỡng nhận thức – khi thông tin được đánh giá là có giá trị phân tích.

Các cấp bậc dùng trong đánh giá về ngân hàng bao gồm: 0: Trung lập; 1: Tích cực; 2: Khá tích cực; 3: Trung bình; 4: Khá tiêu cực; 5: Tiêu cực. Tuy nhiên, thống kê lại, nhóm nghiên cứu đưa ra 3 cấp bậc để đánh giá cuối cùng, bao gồm: Trung lập (gồm 0 và 3), tích cực (1 và 2), và tiêu cực (4 và 5).

Mai Linh / Tri Thức Trẻ
* Nguồn: Doanh Nhân Sài Gòn

[ad_2]

  • Nguyen The Hoan-

    Related Posts

    Bảo vệ: Chân dung khách hàng AQtech

    Không có trích dẫn vì bài này được bảo vệ.

    Read more

    Những Điều Cần Lưu Ý Khi Tổ Chức Sự Kiện Lớn: Bí Quyết Thành Công Không Thể Bỏ Qua

    Tổ chức một sự kiện lớn không chỉ đơn thuần là việc chuẩn bị một không gian và mời khách tham dự; đó còn là một hành trình đầy thách…

    Read more

    You Missed

    AI Và Bản Chất Của Tiếp Thị Hiện Đại: Từ “Agentic Marketing” Đến Việc Giải Phóng Nghệ Thuật Kể Chuyện Thương Hiệu

    AI Và Bản Chất Của Tiếp Thị Hiện Đại: Từ “Agentic Marketing” Đến Việc Giải Phóng Nghệ Thuật Kể Chuyện Thương Hiệu

    Geleximco Và Bước Đi Mới Trong Kỷ Nguyên Công Nghệ Cao: Tái Định Vị Bản Sắc Và Cấu Trúc Hệ Sinh Thái Thương Hiệu

    Geleximco Và Bước Đi Mới Trong Kỷ Nguyên Công Nghệ Cao: Tái Định Vị Bản Sắc Và Cấu Trúc Hệ Sinh Thái Thương Hiệu

    4 Lớp Cấu Trúc Của Marketing: Kiến Trúc Động Cơ Tăng Trưởng Bền Vững Cho Doanh Nghiệp

    4 Lớp Cấu Trúc Của Marketing: Kiến Trúc Động Cơ Tăng Trưởng Bền Vững Cho Doanh Nghiệp

    20 Kỹ Năng Marketing Cốt Lõi: Bộ Trụ Cột Năng Lực Định Hình Một Quản Lý Tiếp Thị Thực Trị

    20 Kỹ Năng Marketing Cốt Lõi: Bộ Trụ Cột Năng Lực Định Hình Một Quản Lý Tiếp Thị Thực Trị

    ATL, BTL hay TTL Marketing: Lựa Chọn Nào Thực Sự Mang Lại Tác Động Kinh Doanh Tối Thượng?

    ATL, BTL hay TTL Marketing: Lựa Chọn Nào Thực Sự Mang Lại Tác Động Kinh Doanh Tối Thượng?

    Danh Sách Kiểm Tra Quảng Cáo Meta: Từ Thiết Lập Kỹ Thuật Đến Mở Rộng Quy Mô Hiệu Suất

    Danh Sách Kiểm Tra Quảng Cáo Meta: Từ Thiết Lập Kỹ Thuật Đến Mở Rộng Quy Mô Hiệu Suất